Dàn ý cảm nhận bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Lập dàn ý phân tích cảm nhận bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Dàn ý chi tiết bài thơ Sóng 1

Mở bài

Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu. Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).

Thân bài

– Dàn ý bài thơ sóng Khổ 1 :

+ Sóng hiện ra với những đối cực Dữ dội >< Dịu êm; ồn ào>< lặng lẽ như những cung bậc tâm trạng của người phụ nữ khi yêu.

+ Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.

– Dàn ý bài thơ sóng Khổ 2 :

+ Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua, tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ.

+ Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Dàn ý bài thơ sóng Khổ 3, 4 :

+ Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì, là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biết yêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi.

+ Người phụ nữ, nhân vật em trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt. 

– Dàn ý bài thơ sóng Khổ 5 :

+ Con sóng, dù ở trạng thái nào (trong lòng sâu, trên mặt nước, ngày hay đêm), đều thao thức một nỗi niềm “nhớ bờ”. Nỗi nhớ choán cả không gian, thời gian.

+ Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cũng vậy. Hạt nhân của nó là nỗi nhớ, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, nỗi nhớ chiếm cả tầng sâu, chiều rộng và trải dài theo thời gian, lúc hiện hữu, khi lắng sâu, lúc ý thức, khi nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức.

Dàn ý bài thơ sóng Khổ 6, 7

+ Cũng như sóng chỉ có một hướng đích duy nhất là bờ, em chỉ có phương anh làm điểm đến, bất chấp cuộc đời có nhiều trái ngang.

+ Sự thuỷ chung của sóng với bờ hay cũng chính là sự chung thuỷ của em với anh. Nếu nỗi nhớ làm thành biểu hiện nồng nàn, sôi nổi của tình yêu thì sự thuỷ chung lại là phần đằm sâu trong trái tim người phụ nữ. 

– Hai khổ cuối :

+ Sự sống, tình yêu ở thời đại nào cũng luôn hữu hạn trong tương quan với cái vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận của thiên nhiên, vũ trụ. Trước cái vĩnh hằng của tạo hoá, trước dòng chảy vô hồi, vô hạn của cuộc đời, tình yêu của con người mãi mãi chỉ là “bóng câu qua cửa sổ”. Đó là cảm thức về thời gian. Dường như càng yêu mãnh liệt, càng khát khao gắn bó, con người càng hay nghĩ về thời gian ! Người phụ nữ đang cháy bóng khát khao yêu và được yêu trong Sóng cũng không phải là ngoại lệ.

+ Vậy, chỉ có một cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi. Đó là “Làm sao được tan ra – Thành trăm con sóng nhỏ – Giữa biển lớn tình yêu – Để ngàn năm còn vỗ”. Đó là khát vọng được vĩnh cửu hoá tình yêu, được hoà tình yêu của mình vào khối tình chung của nhân loại, như con sóng hoà vào đại dương mênh mông, bất tận.

Đọc thêm: Sơ đồ tư duy bài Sóng ngắn gọn dễ hiểu

4. Nghệ thuật

– Nhịp điệu độc đáo, giàu sức liên tưởng: thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp, gieo vần, nối khổ linh hoạt

– Giọng điệu tha thiết chân thành, ít nhiều có sự phấp phỏng lo âu.

– Xây dựng hình tượng sóng như một ẩn dụ nghệ thụât về tình yêu của người phụ nữ.

-Kết cấu song hành: sóng và em

5. Chủ đề

Sóng là bài thơ tình đặc sắc. Bài thơ là sự khám phá những khát vọng tình yêu của trái tim người phụ nữ chân thành, giàu khao khát nhưng cũng rất tự nhiên

Dàn ý 2

Mở bài

Giới thiệu tác giả Xuân Quỳnh và đặc điểm thơ bà

Giới thiệu bài thơ Sóng

Thân bài

Những cảm xúc suy nghĩ về sóng biển và tình yêu:

Khổ 1:

Nhà thơ sử dụng phép tiểu đối : dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ đã nói lên được trạng thái đối lập của sóng và liên tưởng tới tâm trạng của người phụ nữ khi yêu( lúc thì sôi nổi, mãnh liệt, khi thì dịu dàng đằm thắm).

Nhà thơ sử dụng phép nhân hóa: Sông – không hiểu mình, sóng – ra tận bể. Nếu như sông không hiểu nổi mình thì sóng phải tìm ra tận bể để thoát khỏi nơi chật hẹp, tìm đến nơi rộng lớn và bao dung hơn.

Khổ 2:

Quy luật của sóng ( tự nhiên): ngày xưa, ngày nay: vẫn thế.

Quy luật của tình cảm: “ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ”. Tình yêu chính là một khát vọng lớn lao vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại.

Sóng và cội nguồn của tình yêu đôi lứa:

Khổ 3: Nhà thơ đã sử dụng điệp từ “ em nghĩ” và câu hỏi tu từ “ Từ nơi nào sóng lên?”. Thể hiện khát khao mong muốn tìm hiểu cội nguồn của tình yêu, cắt nghĩa, lý giải tình yêu, khát khao hiểu được bản thân và hiểu được người mình yêu.

Khổ 4: Nhà thơ tiếp tục sử dụng câu hỏi tu từ: “Gió bắt đầu từ đâu?”, “Khi nào ta yêu nhau?” Nhà thơ muốn dựa vào quy luật của tự nhiên để hiểu được quy luật của tình yêu nhưng tình yêu cũng như sóng vậy luôn bất ngờ, bí ẩn, không thể lý giải được.

Sóng – nỗi nhớ , lòng thủy chung của người con gái

Khổ 5: Nỗi nhớ

Bao trùm cả không gian “ Con sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước”.

Thao thức cả trong thời gian: “ Ngày đêm không ngủ được”.

=> Nhà thơ đã sử dụng phép đối, giọng thơ náo nức dào dạt đã diễn tả nỗi nhớ sâu sắc , da diết, không thể nguôi, luôn thường trực ở người phụ nữ nó dào dạt như sóng biển triền miên.

Sóng nhớ bờ tha thiết mãnh liệt còn em nhớ tới anh gấp bội phần đến cả trong mơ nhớ anh : “ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”.

=>Nhà thơ đã bày tỏ tình yêu một cách chân thành, dịu dàng mà cũng mãnh liệt, mạnh dạn.

Khổ 6: Lòng thủy chung

Đã khẳng định lòng mình với người mình yêu “ Dẫu xuôi về phương Bắc/ Dẫu ngược về phương Nam”, dù ở đâu vẫn nhớ và yêu người mình yêu một cách vô hạn . Đó chính là một lời thề với người mình yêu dù đi đâu vẫn nhớ thương tới người đang chờ mình.

Các điệp ngữ được sử dụng : “dẫu xuôi về, dẫu ngược về”, cùng với các điệp từ “ phương” kết hợp với các từ “em cũng nghĩ, hướng về anh”. Nhà thơ đã khẳng định niềm tin chờ đợi trong tình yêu.

Khổ 7: Bến bờ hạnh phúc

Nhà thơ đã mượn hình ảnh của sóng “ Sóng ngoài đại dương”, “ con nào chẳng tới bờ”. Đó là một quy luật tất yếu.

Sóng để tới được bờ phải trải qua muôn vàn cách trở: Tình yêu của em và anh dành cho nhau cũng vậy dù phải trải qua mọi gian lao thử thách cũng sẽ đến được bến bờ hạnh phúc.

Sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu:

Khổ 8: Nhà thơ đã sử dụng cách nói đối lập:Cuộc đời dài >< năm tháng vẫn đi qua, hay hình ảnh “ Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa”, biển dù rộng cũng không giữ nổi mây. Từ đó cho thấy cuộc đời con người là hữu hạn, hạnh phúc thì mong manh đã nói lên nỗi trăn trở lo âu của nhà thơ vì vậy cần sống hết mình, yêu hết mình để không phải hối tiếc.

Khổ 9: Nhà thơ đã sử dụng cách nói giả định “ Làm sao được tan ra” + con số ước lệ “trăm”, “ ngàn” kết hợp với hình ảnh ẩn dụ “ biển lớn tình yêu”, “sóng”. Đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt của nhà thơ, sống hết mình trong tình yêu, muốn mình hóa thành sóng để sống mãi với tình yêu, hóa vào sóng để trở thành một tình yêu vĩnh cửu.

Kết bài

Bài thơ là một trong những bài tiêu biểu của nhà thơ khi viết về tình yêu. Một tình yêu mãnh liệt, tràn đầy sức sống, yêu hết mình.

Nghệ thuật: cách gieo vần nhịp linh hoạt, thể thơ năm chữ tạo âm điệu dạt dào….

Dàn ý 3

Mở bài

- Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường, thơ chị là tiếng lòng của một tâm hồn luôn khao khát tình yêu, tiếng thơ vừa hồn nhiên vừa nồng nàn, mãnh liệt.

- Bài thơ được in trong tập Hoa dọc chiến hào, là một trong những bông hoa rực rỡ nhất trong đời thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ là tâm trạng mãnh liệt của người phụ nữ trong tình yêu.

II. Thân bài

- Khổ 1:

    + Con sóng của đại dương hiện lên với nhiều đối cực khác nhau dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, đó cũng là hình ảnh trái tim chứa đựng nhiều cảm xúc phong phú phức tạp của người phụ nữ.

    + Hai câu sau là sự bứt phá của sóng thoát khỏi không gian sông nhỏ hẹp, “không hiểu mình” để tìm đến biển cả rộng lớn, người phụ nữ cũng luôn khát khao những giá trị tuyệt đích trong tình yêu, luôn muốn khám phá chính mình.

- Khổ 2:

    + Thời gian có đổi thay, những bản tính của sóng “ngày xưa”, “ngày sau” vẫn như vậy: luôn dạt dào, khao khát tìm kiếm không gian rộng lớn vẫy vùng, luôn hướng đến bờ.

    + Cũng như trong trái tim của người con gái luôn rạo rực, “bồi hồi” khát khao được yêu thương, khát khao đến bến bờ nơi anh.

- Khổ 3:

     + Trái tim tình yêu của người con gái đã hòa nhịp chung với nhịp vỗ của “muôn trùng sóng bể”.

    + Người con gái trong tình yêu luôn khát khao nhận thức về mình, người mình yêu và về tình yêu. Nỗi khắc khoải “Từ nơi ..lên” là khát khao tìm nguồn cội tình yêu.

- Khổ 4:

     + Đến đây chính là lời giải đáp cho những băn khoăn ở khổ trước.

    + Vì trái tim người con gái đã hòa nhịp cùng sóng, nên để tìm nguồn cội tình yêu người con gái muốn lí giải nguồn cội của sóng trước, nhưng tất cả đều bí ẩn, để rồi ngại ngùng thốt lên “Em cũng không biết nữa”.

- Khổ 5:

    + Nỗi nhớ bờ của sóng triền miên, bao trùm khắp không gian “dưới lòng sâu” – “trên mặt nước”, thời gian “ngày” – “đêm”, dạt dào đến “không ngủ được”. Đó cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.

   + Nỗi nhớ “anh” của “em” còn ăn sâu vào cả tiềm thức, luôn thường trực trong mọi lúc, mọi nơi ngay cả trong giấc mơ: “cả trong mơ còn thức”.

- Khổ 6:

      + Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.

    + Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.

- Khổ 7: Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “con nào chẳng tới bờ ... Dù... cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.

- Khổ 8:

     + “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.

    + “Như biển kia ... bay về xa”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.

- Khổ 9:

    + “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.

    + Đó là khát khao của người phụ được sống “biển lớn trong tình yêu ” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.

III. Kết bài

- Nêu cảm nhận về bài thơ Sóng

- Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng thành công hình tượng “sóng” ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị, ...

- Sóng là bài thơ in đậm dấu ấn tâm hồn người phụ nữ vừa đời thường, chắt chiu nhưng khát khao những gì tuyệt đích trong tình yêu.

Dàn ý 4

Mở bài

– Giới thiệu về nhà thơ Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng.

– Nhà thơ Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có nhiều sáng tác hay ở nhiều thể loại khác nhau. Bà được biết đến như một nữ thi sĩ của tình yêu.

– Bài thơ Sóng là một bài thơ tình nhẹ nhàng như sóng vỗ và bày tỏ được khát vọng lớn trong tình yêu.

2. Thân bài phân tích bài thơ Sóng

a. Khổ thơ 1 + 2: Trạng thái tâm lí của người phụ nữ đang yêu

– Sự đối lập trong con sóng với những trạng thái khác nhau: dữ dội >< dịu êm, ồn ào >< lặng lẽ.

– Đó cũng là những trạng thái của một người con gái đang yêu.

– Sóng mang trong mình khát vọng lớn lao, tìm ra tận bể lớn để đến với tình yêu rộng lớn hơn.

– Nói đến sự bất diệt của biển là để nói đến khát vọng tình yêu bất diệt của người trẻ.

b. Khổ thơ 3 + 4: Nhu cầu phân tích, lí giải tình yêu

– Từ đối tượng cảm nhận, sóng chuyển thành đối tượng để suy tư.

– Những câu hỏi trở thành cuộc đối thoại với vũ trụ và chủ đề không nằm ngoài tình yêu.

– Nguồn gốc của tình yêu là một câu hỏi lớn không tìm ra được lời đáp.

– Lời thú nhận hồn nhiên của Xuân Quỳnh bộc lộ nét nữ tính mềm mại của người phụ nữ.

c. Khổ 5 + 6: Nỗi nhớ tình yêu

– Yêu là nhớ. Đó không phải là nỗi nhớ bình thường mà là nhớ đến da diết, cồn cào.

– Xuân Quỳnh gửi tâm hồn vào sóng, nhờ sóng nói hộ lòng mình.

– Sự khác biệt trong độ dài của khổ thơ.

– Sử dụng hình ảnh so sánh độc đáo.

– Trong tình yêu không có giới hạn về thời gian. Dù là đêm, nỗi nhớ vẫn tồn tại.

– Sự thủy chung của người con gái khi chỉ hướng về phương anh.

d. Khổ thơ 7 + 8 + 9: Khát vọng tình yêu vĩnh hằng

– Khát vọng sống mãnh liệt của sóng, niềm tin mạnh mẽ vào cái đích tốt đẹp của tình yêu.

– Mượn quy luật của sóng biển để diễn tả quy luật của lòng người.

– Sự lo âu càng làm tặng thêm niềm tin rằng tình yêu sẽ vượt quamọi trở ngại để tới đích.

– Mong ước được sống bất tử cùng với tình yêu.

3. Kết bài

– Tổng quát lại nội dung bài thơ sóng và nêu cảm nhận của em về bài thơ này

Xem nhiều