Dàn ý giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ Nhặt

Dàn ý cảm nhận giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ Nhặt của Kim Lân

Dàn ý chi tiết 1

Mở bài

Giới thiệu về tác phẩm: Vợ nhặt là truyện ngắn viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945, tuy nhiên mục đích mà nhà văn Kim Lân hướng đến không phải là phơi bày hiện thực đau thương, bi thảm của con người mà nhằm khẳng định sức sống mạnh mẽ bên trong con người.

Thân bài

– Cảm hứng nhân đạo đã chi phối ngòi bút của Kim Lân nên từng chi tiết, sự kiện trong tác phẩm đều thể hiện được sự thương yêu, đồng cả trân trọng của tác giả đối với số phận của con người.

– Truyện ngắn Vợ nhặt đã thể hiện chân thực đến mức ám ảnh hiện thực của nạn đói, cái nghèo cái đói vây hãm cuộc sống của con người.

– Không gian của nạn đói cũng thật khủng khiếp với những người sống nằm ngổn ngang khắp lều chợ, người chết đói như ngả rạ, mùi gây của xác người tràn ngập trong không gian

– Là những người sống tại xóm Ngụ cư, cuộc sống của mẹ con Tràng cũng bị cái đói, cái nghèo vắt kiệt sự sống.

– Bên cạnh những miêu tả chân thực có phần trần trụi về nạn đói,nhà văn Kim Lân cũng thể hiện được thái độ thương yêu, trân trọng đối với sự sống của con người. :

+ Chị vợ  nhặt cũng là một nạn nhân của nạn đói, hình hài tiều tụy, khuôn mặt lưỡi càu xám xịt của chị cũng hiện lên thật đáng thương.

+ Bà cụ Tứ là một người mẹ thương con với tấm lòng ấm áp.

+  Đối với hạnh phúc “nhặt” được,  anh Tràng không những không coi thường người đàn bà chấp nhận đi theo mình mà còn bỏ ra hai hào dầu để thắp sáng trong đêm đầu tiên vợ về nhà.

Kết luận

Như vậy, qua truyện ngắn Vợ nhặt, tác giả Kim Lân đã cho người đọc thấy được sự dữ dội, khủng khiếp của nạn đói. Tuy nhiên bằng tấm lòng nhân văn cao cả, nhà văn đã cho người đọc thấy được ánh sáng của tình thương vẫn tỏa rạng, tình người vẫn ấp áp ngay cả khi cái chết cận kề.

Dàn ý 2

Mở bài

Bức tranh thảm đạm về nạn đói ấy được tái hiện cụ thể. Xóm ngụ cư thì ngổn ngang kẻ sống dở, người chết, tiếng khóc, tiếng quạ kêu gào lên từng hồi thè thiết, mùi gây của xác người, càng tô đậm thêmcảm giác tang tóc, thê lương.

Giữa lúc đó, Tràng lấy vợ, tạo nên những tình huống thật bất ngờ.

Thân bài

GIÁ TRỊ HIỆN THỰC

* Nạn đói khủng khiếp năm 1945 được tái hiện cụ thể

-     Cảnh đói: Cái đói đã làm cho xóm ngụ cư vốn nghèo khổ giờ đây càng xơ xác, thê lương. Cái đói đã làm cho bọn trẻ con cứ ngồi ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích. Cái đói càng lan rộng hoành hành, khiến nhiều người xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Cảnh tang tóc bao trùm lên xóm ngụ cư: người chết như ngả rạ, không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

-     Con người trong cảnh đói: Giữa bối cảnh đó, một cô gái rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, mặt lưỡi cày, chỉ qua mấy câu đùa cợt, đã sẵn sàng sà xuống ăn một chập bốn bát bánh đúc, rồi sẵn sàng theo một người đàn ông xa lạ, hòng thoát khỏi cảnh chết đói. Anh chàng ngụ cư nghèo khổ thì "nhặt" được vợ - đặc biệt là bữa cơm ngày đói - đã phản ánh sốphận thê thảm của con người.

* Sự đau khổ, căm hờn và phản kháng của nhân dân

-     Hình ảnh thê lương của nạn đói 1945 đã tốcáo tội ác tày trời của bọn phát xít Nhật. Chúng đã đẩy nhân dân ta vào vòng cùng khổ, chết chóc.

-     Tâm trạng của quần chúng trước cơn bão tốcủa lịch sử được bộc lộ. Bà cụ Tứ đã than thở với con dâu: "Đằng thì nó bắt giồng day, đằng thì nóbắt đóng thuế".

-     Trong đoạn cuối truyện, khi người con dâu nghe tiếng trống thúc thuế thì bảo: "Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy".

GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO

* Tính nhân bản của truyện

Bản thân bức tranh hiện thực trên đã có giá trị nhân đạo. Con người luôn khao khát sống, khao khát tình thương yêu, hạnh phúc và trong bất kì tình huống nào cũng tin vào cuộc sống, hi vọng vào tương lai. Tính nhân bản này được thể hiện qua diễn biến tâm lí và tình cảm của các nhân vật trong truyện.

* Tình cảm thương yêu, tấm lòng cưumang đùm bọc và niềm tin ở tương lai của những người khốn khổ

-     Người con dâu: từ chỗ bất chấp sĩ diện, ăn nói chỏng lỏn..., dần dần trở thành con người đúng mực với chồng và mẹ chồng...

-     Tràng "nhặt" được vợ từ chỗ liều, dần dần anh có những suy nghĩ nghiêm túc đầy trách nhiệm. Đây là sự biến đổi tâm lí một anh chàng thô vụng, chuyên làm trò cười cho trẻcon đến chỗ trở thành một con người thực sự nên người...

-     Đặc biệt là diễn biến tâm trạng của một người mẹ nghèo rất bao dung và giàu đức hi sinh: "Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá" và biểu hiện sự "mừng lòng", nói toàn chuyện vui trong "bữa cơm" ngày đói. Ngay cả niềm tin mang tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa của bà cũng khiến người đọc phải cảm động. Đó là niềm tin vào triết lí dân gian "ai giàu ba họ, ai khó ba đời", "sông có khúc người có lúc".

Tràng thì nghĩ đến xe thóc của Liên đoàn, trong óc... vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới. Tác giả đã khắc họa trạng thái tâm lí cá nhân bị dồn ép vào sự thay đổi số phận của dân tộc.

Kết bài

Xây dựng các kiểu tình huống như trên, Kim Lân đã đạt được cùng lúc nhiều hiệu quả nghệ thuật.

-     Tố cáo chế độ thực dân, phong kiến đã đẩy xã hội và con người vào bước đường cùng, dẫn đến nạn đói và cái chết khủng khiếp nhất.

-     Dù trong bất kì tình huống và hoàn cảnh nào, con người vẫn không từ bỏ niềm tin vào cuộc sống, và khát vọng sống hạnh phúc.

Dàn ý 3

MỞ BÀI

   Giới thiệu chung về truyện ngắn Vợ nhặt và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm

THÂN BÀI

1. Nạn đói khủng khiếp năm 1945

   Trong truyện đã diễn tả với tất cả niềm xót thương thông cảm của tác giả về cảnh bi thảm của quần chúng lao động trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.

a) Cái đói bao trùm khắp nơi và tràn đến cái xóm nghèo của dân ngụ cư

   Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình lũ lượt đội chiếu, dắt díu bồng bế nhau lên, xám lại như những bóng ma. Buổi sáng nào cũng có vài người chết còng queo bên đường, toả mùi gây gây của xác chết.

   Toàn bộ câu truyện của Tràng diễn ra trên cái cảnh đói khổ và tang tóc ấy:  Cảnh xóm ngụ cư vào buổi chiều Tràng đưa người vợ theo về; tiếng hờ khóc trong đêm, mùi đốt đống rấm.

b) Tình cảnh của gia đình Tràng

   – Tràng: nghèo, không lấy nổi vợ.

   – Vợ Tràng: Vì đói mà phải theo không về làm vợ, không có cưới cheo gì.

   – Tình cảm xót xa của bữa cơm đón nàng dâu mới (nồi cháo loãng và bát cám).

2. Sự cưu mang, niềm hi vọng của người lao động nghèo khổ

   Truyện đã làm sáng lên trên cái nền đen tối ảm đạm ấy sức sống, khát vọng : mái ấm gia đình và sự nương tựa, che chở cho nhau của những người lao động nghèo khổ, sáng lên niềm tin hy vọng của họ.

a)  Tình huống Tràng có vợ, “nhặt” được vợ và ý nghĩa

   – Thái độ của Tràng từ lúc chỉ coi là chuyện tầm phào đến lúc xem đó là truyện nghiêm chỉnh của đời mình (Dẫn và phân lích những lời nói, hàng động của Tràng khi mới gặp người đàn bà và trong cảnh đưa chị ta về nhà).

b) Ánh sáng của hơi ấm hạnh phúc gia đình giữa lúc nạn đói hoành hành

   – Cảnh gia đình Tràng, căn nhà, mảnh vườn trong buổi sáng hôm sau.

   – Sự biến đổi trong tâm trạng của Tràng, của người vợ nhặt.

   – Ý nghĩa và thái độ của bà cụ Tứ, nỗi xót xa, thương cảm và niềm hy vọng cùa người mẹ

   – Niềm hi vọng của họ về sự đổi thay số phận hướng về cuộc cách mạng

   3. Giá trị nhân đạo của tác phẩm

   – Một tư tưởng nhân đạo hướng về quần chúng lao động, khẳng định phẩm chất và sức sống bền bỉ của họ.

   – Niềm tin của tác giả đặt vào những khát vọng bình dị mà chân chính những con người vẫn muốn sống, vẫn khát khao tình thương và sự gắn bó, việc nương tựa vào nhau đã cho họ niềm tin để sống.

   – Chủ nghĩa nhân đạo của tác phẩm dựa trên sự am hiểu sâu sắc, gắn với đời sống người nông dân của Kim Lân. Tác giả không tô vẽ, lí tưởng các nhân vật của mình.

Kết bài

   – Tóm tắt các ý chính trong hai đoạn A, B.

   – Mở rộng đến thời đại ngày nay

Xem nhiều