dàn ý phân tích 8 câu thơ cuối bài chinh phụ ngâm

Dàn ý số 1 I. Mở bài – Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Đặng Trần Côn là con người tài ba …

Dàn ý số 1

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Đặng Trần Côn là con người tài ba học giỏi và có tài văn chương. Đoạn trích này là một trong những đoạn hay và xúc động nhất của tác phẩm chinh phụ ngâm

– Khát quát tâm trạng của người chinh phụ: Tâm trạng chủ đạo buồn sầu cô đơn nhung nhớ.

II. Thân bài

1. Nỗi cô đơn của người chinh phụ (8 câu đầu)

– Cảnh ngộ: Chồng đi đánh trận, người chinh phụ phải ở nhà một mình.

– Hành động:

   + “Gieo từng bước”: bước chân chậm rãi từng bước một

   + “Rủ thác đòi phen”: Buông xuống cuốn lên nhiều lần.

→ Hành động lặp đi lặp lại nhiều lần, không có mục đích

→ Tâm trạng bần thần, cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ.

– Hình ảnh:

   + “Chim thước”: Loài chim báo tin lành. Người chinh phụ ngóng trông tin chồng thắng trận trở về, nhưng thươc chẳng mách tin

→ Sự ngóng trông đến vô vọng

   + “Ngọn đèn” “chẳng biết”: Gợi thời gian đêm khuya

→ Gợi sự cô đơn, khát vọng sum họp, không ai chia sẻ.

   + “Hoa đèn – bóng người”: Gợi sự trằn trọc, thao thức vì nhớ chồng, con người không còn sức sống.

→ Tâm trạng buồn sầu, nhớ nhung, ngóng trông vô vọng.

– Lời độc thoại của nhân vật.

   + “Lòng thiếp riêng bi thiết”: Nỗi lòng bi thương, thảm thiết không nói lên lời

   + “Buồn rầu”: Buồn đau, cô đơn

   + “Khá thương”: Xót xa. Đau đớn, bồn chồn

– Nghệ thuật:

   + Đối: rủ – thác, ngoài – trong

   + Điệp ngữ bắc cầu: đèn biết chăng – đèn chẳng biết: Tâm trạng buồn triền miên, kéo dài.

   + Câu hỏi tu từ: Là lời than thở khắc khoải không yên

+ Những từ ngữ đặc tả tâm trạng: Bi thiết, buồn rầu, khá thương,…tô đậm tâm trạng nhân vật.

2. Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ (8 câu tiếp).

– Cảnh vật

   + “Gà eo óc”, “năm trống”: Gợi âm thanh của sự lẻ loi, cô quạnh và thời gian ban đêm trống vắng

→ Người chinh phụ nhớ chồng thao thức suốt đêm

   + “Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”: Bóng cây hòe ngoài sân trong vườn ngắn rồi dài, dài lại ngắn nhàm chán không có sức sống.

→ Cảnh vật gợi sự cô quạnh, hoang vắng đến đáng sợ

– Thời gian

   + “Khắc giờ đằng đẵng như niên”: Một giờ xa cách như một năm dài đằng đẵng.

→ Nỗi buồn kéo dài vô tận.

   + “Mối sầu”, “dằng dặc”, “miền biển xa”: Cụ thể hóa nỗi sầu, giúp người đọc cảm nhận được sự dàn trải của nó.

→ Tô đậm nỗi cô quạnh, sầu muộn dàn trải của người chinh phụ

– Hành động.

   + Động từ “gượng”: gượng gạo, miễn cưỡng

   + “Hương gượng đốt”, “hồn đà mê mải”: Miễn cưỡng đốt hương tìm sự thanh thản nhưng lại mê man.

   + “Gương gượng soi”, “lệ lại châu chan”: Gượng gạo soi gương mà òa khóc

+ “Gượng gảy ngón đàn”: Khát khao hạnh phúc nhưng lại sợ điềm gở

– Hình ảnh: “Sắt cầm, dây duyên, phím loan”: Biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi nhưng lại gợi nỗi đau chia lìa

→ Người chinh phụ càng cố gắng giải tỏa thì tâm trạng càng cô đơn, tuyệt vọng, nỗi sầu muộn càng trở nên ám ảnh.

Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Đặng Trần Côn) hay nhất

   + Sử dụng các từ láy gợi hình gợi cảm: eo óc, phất phơ, đằng đẵng,…

   + Sử dụng các hình ảnh so sánh: lấy vật hữu hình để nói vật vô hình để cụ thể hóa nỗi sầu.

   + Điệp từ ‘gượng”: Khắc họa tâm trạng gượng gạo một cách ám ảnh

   + Hình ảnh ước lệ, tả cảnh ngụ tình.

3. Niềm thương nhớ chồng của người chinh phụ (8 câu cuối)

– Không gian:

   + “Gió Đông, non Yên”: Hình ảnh ước lệ gợi hình ảnh người vợ phải mượn ngọn gió Đông mới có thể truyền tải được nỗi nhớ chồng.

   + “Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối

→ Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ.

– Tính chất nỗi nhớ.

  + “Thăm thẳm”: Gợi độ dài của thời gian, độ rộng của không gian, độ sâu của nỗi nhớ.

   + “Đau đáu”: Trạng thái không yên lòng, quan tâm nhớ nhung mong đợi day dứt khôn nguôi.

→ Nỗi nhớ triền miên trong thời gian vô tận được cụ thể hóa bằng không gian xa vơi, khắc họa nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.

– Tâm trạng:

   + “Cảnh buồn, thiết tha lòng”: Tả cảnh ngụ tình, cảnh buồn, lòng người đau xót, quặn thắt.

   + “Cành cây sương đượm”: Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo

   + “Tiếng trùng mưa phun”: Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.

→ Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng.

– Nghệ thuật.

   + Từ láy gợi hình gợi cảm: thăm thẳm, đau đáu, thiết tha

   + Hình ảnh ước lệ: gió đông, non Yên.

   + So sánh: “đường lên bằng trời”

   + Điệp từ: “nhớ”, “gửi”, “thăm thẳm”

   + Điệp ngữ bắc cầu: “non Yên –non Yên”, “bằng trời – trời thăm thẳm”.

   + Tả cảnh ngụ tình: “Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”.

4. Thái độ của tác giả trước tâm trạng của người chinh phụ

– Thương xót, cảm thông trước tình cảnh cô đơn sầu muộn của người chinh phụ

– Ngợi ca tấm lòng thủy chung, khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

– Lên án chiến tranh phong kiến đã gây ra cho con người bao đau khổ, mất mát

III. Kết bài

– Khái quát lại tâm trạng của người chinh phụ

– Thể hiện suy nghĩ của bản thân: Đồng cảm, thương xót cho người phụ nữ, trân trọng những vẻ đẹp phẩm chất của họ.

Dàn ý số 2

I. Mở bài

– Hình ảnh:

   + “Chim thước”: Loài chim báo tin lành. Người chinh phụ ngóng trông tin chồng thắng trận trở về, nhưng thươc chẳng mách tin

→ Sự ngóng trông đến vô vọng

   + “Ngọn đèn” “chẳng biết”: Gợi thời gian đêm khuya

II. Thân bài

→ Gợi sự cô đơn, khát vọng sum họp, không ai chia sẻ.

   + “Hoa đèn – bóng người”: Gợi sự trằn trọc, thao thức vì nhớ chồng, con người không còn sức sống.

→ Tâm trạng buồn sầu, nhớ nhung, ngóng trông vô vọng.

– Lời độc thoại của nhân vật.

   + “Lòng thiếp riêng bi thiết”: Nỗi lòng bi thương, thảm thiết không nói lên lời

   + “Buồn rầu”: Buồn đau, cô đơn

   + “Khá thương”: Xót xa. Đau đớn, bồn chồn

– Nghệ thuật:

   + Đối: rủ – thác, ngoài – trong

   + Điệp ngữ bắc cầu: đèn biết chăng – đèn chẳng biết: Tâm trạng buồn triền miên, kéo dài.

   + Câu hỏi tu từ: Là lời than thở khắc khoải không yên

+ Những từ ngữ đặc tả tâm trạng: Bi thiết, buồn rầu, khá thương,…tô đậm tâm trạng nhân vật.

2. Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ (8 câu tiếp).

– Cảnh vật

   + “Gà eo óc”, “năm trống”: Gợi âm thanh của sự lẻ loi, cô quạnh và thời gian ban đêm trống vắng

→ Người chinh phụ nhớ chồng thao thức suốt đêm

   + “Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”: Bóng cây hòe ngoài sân trong vườn ngắn rồi dài, dài lại ngắn nhàm chán không có sức sống.

→ Cảnh vật gợi sự cô quạnh, hoang vắng đến đáng sợ

– Thời gian

   + “Khắc giờ đằng đẵng như niên”: Một giờ xa cách như một năm dài đằng đẵng.

→ Nỗi buồn kéo dài vô tận.

   + “Mối sầu”, “dằng dặc”, “miền biển xa”: Cụ thể hóa nỗi sầu, giúp người đọc cảm nhận được sự dàn trải của nó.

→ Tô đậm nỗi cô quạnh, sầu muộn dàn trải của người chinh phụ

III. Kết bài

– Hành động.

   + Động từ “gượng”: gượng gạo, miễn cưỡng

   + “Hương gượng đốt”, “hồn đà mê mải”: Miễn cưỡng đốt hương tìm sự thanh thản nhưng lại mê man.

   + “Gương gượng soi”, “lệ lại châu chan”: Gượng gạo soi gương mà òa khóc

+ “Gượng gảy ngón đàn”: Khát khao hạnh phúc nhưng lại sợ điềm gở

– Hình ảnh: “Sắt cầm, dây duyên, phím loan”: Biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi nhưng lại gợi nỗi đau chia lìa

→ Người chinh phụ càng cố gắng giải tỏa thì tâm trạng càng cô đơn, tuyệt vọng, nỗi sầu muộn càng trở nên ám ảnh.

Dàn ý số 3

I. Mở bài

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ được trích từ tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Tác phẩm đã cho thấy nỗi cô đơn khắc khoải của người chinh phụ có chồng ra chiến trận. Nỗi cô đơn ấy càng đậm nét hơn khi nàng vừa tiễn chồng đi còn mình trở về nơi buông the cô đơn lạnh lẽo. Tất cả những cung bậc cảm xúc đó đã được khắc họa trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

II. Thân bài

Văn bản được trích từ câu 193 đến cau 216 của bản diễn Nôm. Sau buổi đưa tiễn chồng, người chinh phụ trở về, tưởng tượng nơi chiến trường đầy chết chóc mà lòng xót xa, lo lắng cho chồng và thương cảm cho hoàn cảnh cô đơn, lẻ loi của mình. Tâm sự của nàng diễn biến qua rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau đã được tác giả tinh tế nắm bắt trọn vẹn.

III. Kết bài

Tám dòng thơ đầu cho thấy tâm trạng bồn chồn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, đơn chiếc :

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Ngồi rèm thừa rủ thác đòi phen

Dàn ý số 4

I. Mở bài

Không gian hết sức cô quạnh, vắng vẻ chỉ có bước chân người chinh phụ thầm gieo trên hiên vắng.

II. Thân bài

Tâm trạng nàng hết sức bồn chồn, lo lắng, nàng đứng ngồi không yên, hết rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại ngong ngóng tin chồng trở về, nhưng người chồng vẫn ra đi bặt vô âm tín. Hành động treo rèm lại rồi lại kéo rèm xuống là hạnh động diễn ra trong vô thức, nàng làm mà không hề hay biết, điều đó càng khắc họa rõ nét hơn nỗi thất vọng tràn trề của nàng. Dù ở ngoài hiên hay trong rèm nàng vẫn cô đơn, lẻ loi hết sức. Nàng mong ngóng tiếng con chim thước báo tin nhưng chim thước cũng im ắng. Đêm khuya chỉ có một mình, nàng càng khao khát sự sẻ chia hơn bao giờ hết, nhưng ngọn đèn vô tri, vô cảm không thể an ủi, chia sẻ với nàng: Đèn có biết dường bằng chẳng biết/ Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Hình ảnh Hoa đèn kia với bòng người khá thương càng đậm tô hơn nữa sự cô đơn, tội nghiệp của người chinh phụ.

Từ nỗi khát khao đồng cảm chuyển sang sự chờ đợi dài đằng đẵng: Gà eo óc gáy sương năm trống/ Hèo phất phơ rủ bóng bốn bên/ Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Tiếng gà eo óc thê lương, càng vang vọng hơn trong không gian đêm khuya tĩnh mịch vắng vẻ. Tiếng gà ấy vừa là sự chảy trôi chậm chạp của thời gian vừa là sự giày vò trong lòng người chinh phụ, nghe tiếng gà, lòng lại càng thổn thức chờ mong hơn gấp bội. Nhìn ra ngoài đêm tối mịt mùng, bóng hòe phất phơ cứ đều đặn lay động qua trước mắt, càng khiến cho thời gian chậm chạp, nặng nề trôi hơn.

III. Kết bài

Thời gian tâm lí được nhân lên gấp bội Khắc giờ đằng đẵng như niên và mối sầu trong lòng người lẻ loi, cô đơn trải ra một không gian vô tận tựa miền biển xa. Trong bốn câu thơ tác giả đã sử dụng thành công bốn từ láy vừa gợi âm thanh vừa gợi nên sự giày vò trong tâm trạng (éo óc) vừa diễn tả sự hoang vắng (phất phơ), từ lại gợi nên không gian thời gian vô tận (đằng đẵng, dằng dặc), qua đó đã diễn tả được nỗi cô đơn, sầu muộn trong vô vọng của người chinh phụ.

Dàn ý số 5

I. Mở bài

Khổ thơ thứ tư diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ để trốn khỏi sự bủa vây của nỗi cô đơn, nhưng càng cố trốn tránh nỗi cô đơn lại càng ôm chặt lấy nàng.

II. Thân bài

 Nàng lấy gương soi trang điểm để quên nhưng nhìn thấy mặt mình nàng lại không cầm nổi nước mắt lệ lại châu chan. Nàng đốt hương mong lấy lại sự thư thái trong tâm hồn nhưng hồn đà mê mải, nỗi cô đơn sầu muộn lại càng đậm sâu hơn. Và đau đớn nhất là khoảnh khắc: Sắt cầm gượng gảy ngón đàn/ Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng, đàn cầm và đàn sắt khi hòa âm với nhau thường được ví với sự sum vầy, hòa hợp yên ấm của hai vợ chồng. Dây uyên biểu tượng cho lựa đôi gắn bó, tất các sự vật đều có đôi có lứa, chỉ riêng mình nàng là cô đơn lẻ bóng. Những biểu tượng ấy càng khơi sâu nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ. Ba từ gượng diễn tả sự trớ trêu, xót xa trước cảnh ngộ của chính mình. Dây đàn đứt và chùng đều là dấu hiệu của điềm xấu trong tình yêu, bởi vậy, nỗi kinh sợ của người chinh phụ khi gượng gảy đàn trở thành một nỗi ám ảnh về sự cô đơn lẻ loi trọn kiếp của người cô phụ.

III. Kết bài

Khổ thơ cuối cùng diễn tả nỗi khao khát gửi gắm tình cảm thương nhớ sâu nặng của người chinh phụ đến nơi chiến trường xa xôi. Nàng gửi tình cảm qua ngọn gió đông (gió xuân) nhưng gió đông yếu ớt không đủ sức mang nỗi nhơ thương nghìn vàng của nàng đến nơi Non Yên xa thẳm. Người chinh phụ lại phải đối mặt với thực tế và thấm thía bi kịch cá nhân: Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu/ Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong/ Cảnh buồn người thiết tha lòng/ Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Nỗi niềm chìm vào cô đơn, chìm vào không gian lạnh lẽo, quạnh vắng, cảnh vật ảm đảm thê lương như đang bủa vây lấy người chinh phụ. Nàng đang đớn, tuyệt vọng đến cùng cực.

Leave a Comment