Dàn ý phân tích bài thơ thiên trường vãn vọng lớp 7 hay nhất

Dàn ý phân tích bài thơ thiên trường vãn vọng lớp 7 hay nhất

Dàn ý số 1

I. Mở Bài

- Giới thiệu bài thơ: "Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra" hay "Thiên Trường vãn vọng" là bài thơ mang tình quê thắm thiết của Trần Nhân Tông - một vị vua, nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.

- Đây cũng là tác phẩm in dấu vẻ đẹp yên bình của thôn quê Việt Nam.

II. Thân Bài

a. Vẻ đẹp cảnh vật thiên nhiên trong bức tranh quê hương: hình ảnh cảnh chiều tà khi hoàng hôn đang dần buông xuống:

+ Thời gian: buổi chiều tà, sắp về tối

+ Không gian: trước xóm sau thôn – khung cảnh làng quê Việt Nam

+ Cảnh vật: “bán vô bán hữu” - phong cảnh mờ ảo, vừa như có lại vừa như không có, vừa thực, lại vừa không có thực gợi nên quang cảnh làng quê yên bình đang mờ trong sương khói, cảnh vừa có nét thực vừa có nét ảo

⇒ Bức tranh thiên nhiên độc đáo, mơ hồ như một bức tranh

b. Sự hòa quyện, đan xen giữa con người và thiên nhiên:

+ Hình ảnh về một chú bé mục đồng – trẻ chăn trâu đã gợi lên trong tác giả những kỉ niệm về tuổi thơ của chính mình.

+ Đàn trâu trở về

+ Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng

⇒ Cảnh vật bình dị, gần gũi, quen thuộc với làng quê Việt Nam

- Nỗi buồn xót xa và nỗi lòng thầm kín của tác giả:

  + Âm thanh: sáo vẳng – tiếng sao văng vẳng đâu đó nơi chốn làng quê

=> Tiếng sáo ấy hay chính là tiếng lòng của tác giả, nó chứa đựng một nỗi buồn xót xa.

III. Kết Bài

- Khẳng định giá trị bài thơ: Bài thơ "Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra" đã gợi nhắc trong lòng người đọc những xúc cảm tinh tế khi nhớ về quê hương.

 

Dàn ý số 2

I. Mở bài

- Giới thiệu khái quát về tác giả Trần Nhân Tông

- Giới thiệu bài thơ “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ,…)

II. Thân bài

1. Hai câu thơ đầu

- Thời gian: buổi chiều tà, sắp về tối

- Không gian: trước xóm sau thôn – khung cảnh làng quê Việt Nam

- Cảnh vật: “bán vô bán hữu” - phong cảnh mờ ảo, vừa như có lại vừa như không có, vừa thực, lại vừa không có thực gợi nên quang cảnh làng quê yên bình đang mờ trong sương khói, cảnh vừa có nét thực vừa có nét ảo

⇒ Bức tranh thiên nhiên độc đáo, mơ hồ như một bức tranh

2. Hai câu còn lại

- Cảnh vật hiện lên nơi làng quê trong buổi chiều tà mờ ảo:

   + Đàn trâu trở về

   + Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng

⇒ Cảnh vật bình dị, gần gũi, quen thuộc với làng quê Việt Nam

- Âm thanh: sáo vẳng – tiếng sao văng vẳng đâu đó nơi chốn làng quê

⇒ Bức tranh làng quê thanh bình, yên ả và nên thơ

⇒ Giữa khung cảnh làng quê ấy, tác giả như chìm đắm vào cảnh vật, non sông mình, tác giả mở rộng tấm lòng đón nhận vẻ đẹp bình dị, yên bình của cuộc sống

III. Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

   + Nội dung: bức tranh làng quê trầm lặng, thanh bình, nên thơ và vè đẹp tâm hồn của tác giả

   + Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, nhịp thơ êm đềm, ngôn ngữ miêu tả mang màu sắc hội họa…

 

Dàn ý số 3

I. Mở bài

- Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua nổi tiếng nhân ái, yêu dân, yêu nước.

- Ông đã cùng vua cha (Trần Thánh Tông) và các tướng lĩnh tài ba như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải... lãnh đạo nhân dân ta mấy lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông.

- Bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiền Trường trông ra được nhà vua sáng tác trong dịp về thăm quê nội ở Thiên Trường (Nam Định), sau khi nước nhà được giải phóng. Nội dung ca ngợi khung cảnh thiên nhiên nông thôn thơ mộng và cuộc sống thanh bình của nhân dân.

II. Thân bài

* Khung cảnh buổi chiều ở phủ Thiên Trường:

+ Hai câu thơ đầu:

"Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,

Bán vô bán hữu tịch dương biển" (Trước xớm, sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không)

-Tả cảnh làng quê lúc hoàng hôn, sương như khói bao phủ lên khắp thôn xóm, vạn vật thấp thoáng ẩn hiện như có, như không. Bức tranh nông thôn với màu sắc, đường nét nhẹ nhàng, thanh thoát.

- Hình ảnh giản dị, quen thuộc nhưng rất gợi cảm (thôn xóm, sương khói, bóng chiều...)

+ Hai câu cuối:

"Mục đồng địch lí ngưu quy tận, 

Bạch lộ song song phi hạ điền."

(Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng)

- Vẫn tiếp tục tả cảnh: tiếng sáo mục đồng réo rắt, đàn trâu đã về nhà hết, từng đôi cò trắng nghiêng cánh liệng trên cánh đồng lúa xanh.

- Cảm xúc xốn xang, rạo rực trong lòng nhà thơ - một vị vua có tâm hồn thi sĩ, xuất thân từ nông thôn, gắn bó máu thịt với quê hương và dân chúng.

III. Kết bài

- Bài thơ ngắn gọn, hàm súc nhưng xứng đáng là thơ của muôn đời.

- Vẻ đẹp giản dị, tinh tế của nó để lại dấu ấn khó phai trong lòng người đọc.

Xem nhiều